|
2.1
Địa điểm tiến hành
Việc lựa chọn địa điểm tiến hành
nghiên cứu cần căn cứ vào mục đích và yêu cầu của công tác
nghiên cứu. Một số tiêu chí cơ bản để chọn địa điểm như: (1) Các
mẫu nghiên cứu có cùng một điều kiện tự nhiên, kinh tế xă hội
như nhau; (2) Địa điểm chọn cần phải có đủ các trường học để trẻ
em có thể tiếp cận các bậc học từ mầm non, tiểu học và trung học
cơ sở; (3) Có thành phần dân tộc thiểu số cao; (4) Có tỷ lệ hộ
nghèo cao so với các xóm khác. Từ những tiêu chí đó, Hội nghị tư vấn có sự tham gia của các
cấp, các ngành địa phương đă thống nhất chọn địa điểm nghiên cứu
tại xóm Đồng Quan xă Bàn Đạt huyện Phú
Bình.
2.2
Nội
dung nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của giáo dục mầm non về sự phát triển đối với
trẻ ở độ tuổi mẫu giáo. Đánh giá hiệu quả của việc trẻ được tham gia chương tŕnh chăm
sóc giáo dục mầm non đầy đủ/không đầy đủ đối với sự phát triển
và học tập của trẻ ở bậc học tiếp theo bao gồm tiểu học, THCS và
THPT. Đánh giá hiệu quả đầu tư của gia đ́nh đối với việc trẻ được tham
gia chương tŕnh chăm sóc giáo dục mầm non sớm đến sự phát triển
và học tập của trẻ em ở các giai đoạn tiếp theo.
2.3 Đối
tượng nghiên cứu
Tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu: Phải
cùng thôn/xóm, cùng dân tộc. Ưu tiên chọn những gia đ́nh có các
cháu tham gia giáo dục mầm non sớm (Từ 3-4 tuổi) và tham gia
muộn (Từ 5 tuổi). Đảm bảo trong số mẫu chọn nghiên cứu có đủ các
mức thu nhập khác nhau (Khá, trung b́nh và nghèo).
Chọn mẫu nghiên cứu: Chọn trẻ em tại ba cấp học: Mầm non; Tiểu
học, Trung học cơ sở và THPT. Tổng số hộ gia đ́nh chọn nghiên
cứu là 12 hộ. Trong đó: Đối với độ tuổi giáo dục mầm non:
Do ở xóm Đồng Quan chưa có nhà trẻ nên 100% trẻ dưới 3 tuổi
không được tiếp cận giáo dục nhà trẻ (Không có nhà trẻ). Đối với
giai đoạn mẫu giáo có hai trường hợp xảy ra: Một số cháu được
tiếp cận mẫu giáo từ 3-4 tuổi (Người dân địa phương thường gọi
là lớp mẫu giáo nhỡ) và phần lớn các cháu tham gia mẫu giáo từ 5
tuổi (Người dân gọi là mẫu giáo lớn). V́ thế có thể lấy hai h́nh
thức này để đánh giá tuổi tiếp cận giáo dục mầm non của các cháu
ở xóm Đồng Quan.
Số lượng chọn mẫu nghiên cứu: 4 cháu (2 cháu tham gia từ năm 3-4
tuổi, 2 cháu tham gia từ năm 5 tuổi). Đối với độ tuổi học sinh tiểu học:
Chọn 4 em (2 em tham gia GDMN từ năm 3 tuổi, 2 em tham gia từ
năm 5 tuổi). Đối với độ tuổi học sinh THCS:
Chọn 2 em (1 em tham gia từ khi 3-4 tuổi, 1 em tham gia từ khi 5
tuổi). Đối với độ tuổi THPT:
Chọn 2 em (1
em tham gia từ 3-4 tuổi, hiện đang học THPT; 1 em tham gia từ 5
tuổi hiện đă bỏ học).
Danh sách trẻ em thuộc xóm Đồng Quan
lựa chọn tham gia chương tŕnh đánh giá:
|
Chủ hộ |
Tên học sinh |
Bậc học năm 2007-2008 |
Đi học mẫu giáo |
|
1. Mẫu giáo |
|
|
|
|
Diệp Văn Chung |
Diệp Văn Cảnh |
Mẫu giáo 5-6 |
Năm 3 tuổi |
|
Diệp Văn Báo |
Diệp Thị Nhung |
Mẫu giáo 5-6 |
Năm 3 tuổi |
|
Trần Thị Liên |
Trần Văn Bảy |
Mẫu giáo 5-6 |
Năm 5 tuổi |
|
Trương Văn Thắng |
Trương Thị Hà |
Mẫu giáo 5-6 |
Năm 5 tuổi |
|
2. Tiểu học |
|
|
|
|
Trần Văn Bảy |
Trần Thị Thuư |
Lớp 3 |
Lúc 5 tuổi |
|
Diệp Thị Chín |
Tạ Thị Trang |
Lớp 2 |
Lúc 5 tuổi |
|
Âu Thị Sáu |
Nguyễn Thị Thanh Hiền |
Lớp 1 |
Lúc 3 tuổi |
|
Đỗ Xuân Nghĩa |
Đỗ Thị Phương Thảo |
Lớp 3 |
Lúc 3 tuổi |
|
3. THCS |
|
|
|
|
Ngô Thị Ngọc* |
Diệp Văn Hưng A |
Lớp 6 |
Lúc 5 tuổi |
|
Diệp Thị Yến |
Lớp 2 |
Lúc 3 tuổi |
|
La Thị Sinh* |
Vũ Văn Dũng |
Lớp 8 |
Lúc 5 tuổi |
|
Vũ Thanh Sơn |
Lớp 6 |
Lúc 3 tuổi |
|
4. THPT |
|
|
|
|
Diệp Văn Phúc |
Diệp Thị Thảo |
Lớp 11 |
Lúc 4 tuổi |
|
Diệp Văn Thái |
Diệp Thị Hoa |
Lớp 10 |
Lúc 5 tuổi |
Ghi chú:
Trường hợp gia đ́nh có hai trẻ, một trẻ đi học mẫu giáo sớm, một
trẻ đi học muộn
2.4 Phương
pháp nghiên cứu
-
Thống
kê tại thời điểm nghiên cứu về t́nh h́nh trẻ đi học các bậc học
Mầm non, Tiểu học và THCS tại thôn điểm: Áp dụng phương pháp
điều tra qua biểu mẫu
-
Phân
tích mối liên quan giữa sự phát triển của trẻ tại các bâc học
tiếp theo với yếu tố: Được đi học mầm non sớm hay muộn:
Khảo sát về kết quả học tập của tất
cả học sinh thuộc xóm Đồng Quan ở bậc học Tiểu học, kết quả học
tập được đánh giá theo quá tŕnh học.Khảo sát t́nh h́nh tham gia mẫu giáo
sớm hay muộn của số học sinh này thông qua sổ sách theo dơi của
trường mầm non. Từ đó tiến hành phân tích, đánh giá môi liên
quan giữa sự phát triển của trẻ ở các bậc học tiếp theo với yếu
tố trẻ được đi học mầm non sớm hay muộn.
-
Đối với các trường hợp nghiên cứu cụ
thể:
-
Áp dụng phương pháp nghiên cứu so
sánh trực tiếp trên đối tượng nghiên cứu đối với trẻ ở độ tuổi
Giáo dục mầm non: Việc chọn mẫu nghiên cứu cần đảm bảo đồng đều
về một số yếu tố như dân tộc, độ tuổi, giới tính (nam/nữ), sức
khoẻ… Tiêu chí đánh giá khi trẻ đạt 6 tuổi (Kết thúc giai đoạn
mẫu giáo): dựa trên sự phát triển của trẻ về thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, t́nh cảm xă hội và thẩm mỹ (Bảng 1. Phần phụ
lục). Thu thập số liệu từ Trung tâm giáo dục mầm non thôn và
đánh giá trực tiếp với các trẻ. Từ kết quả thu được trên thực
tế, đưa ra bảng xếp loại và so sánh.
-
Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng
vấn giáo viên trường Tiểu học, THCS, THPT trên các mặt như: Kết
quả học tập, đạo đức, mức độ tham gia các phong trào của lớp…So
sánh đối với hai trường hợp nhóm trẻ được tham gia chăm sóc giáo
dục mầm non (khi 3-4 và 5 tuổi). (Xem Bảng 2. phần phụ lục)
-
Đánh giá của cộng đồng (Thôn/bản)
đối với những trường hợp nghiên cứu về hiệu quả của chương tŕnh
giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ: như phát triển
thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, t́nh cảm xă hội và nhận thức thẩm
mỹ. Đánh giá thông qua phiếu phỏng vấn, đối tượng phỏng vấn là
các bậc phụ huynh, lănh đạo các ban ngành đoàn thể… (Xem Bảng 3.
phần phụ lục).
-
Đánh giá hiệu quả đầu tư của gia
đ́nh khi cho trẻ tiếp cận giáo dục mầm non sớm đối với sự phát
triển và học tập của trẻ giai đoạn tiếp theo phương pháp:
-
+ Điều tra Thu nhập của gia đ́nh trẻ
nghiên cứu tại thời điểm đi trẻ và thời điểm nghiên cứu
(Bảng
4. Phần phụ lục).
-
+ Tính toán Chi phí đầu tư cho một
trẻ đi đi mẫu giáo (Lúc 3-4 tuổi và lúc 5 tuổi), từ đó xác định
tỷ lệ % của chi phí cho giáo dục mầm non (đi mẫu giáo) trong thu
nhập của gia đ́nh.
-
+ Tính toán Chi phí học tập thêm để
đảm bảo cho trẻ tham gia giáo dục mầm non muộn (lúc 5 tuổi) có
kết quả học tập bằng với trẻ em được tham gia giáo dục mầm non
sớm (lúc 3-4 tuổi): có thể là bằng tiền hoặc thời gian tính bằng
công lao động để hỗ trợ, bồi dưỡng cho trẻ em…
-
Đánh giá hiệu quả của xă hội đối với
việc trẻ được tiếp cận giáo dục mầm non sớm và muộn:
Xác định, so sánh trong xóm/nhóm dân
cư có số lượng trẻ em được tham gia giáo dục mầm non sớm và muộn
khác nhau về một số chỉ số như số lượng trẻ em học ở các bậc học
cao hơn, học nghề, thoát ly lao động bên ngoài, tham gia các
hoạt động của địa phương, phát triển kinh tế gia đ́nh tốt hơn…
|