Đầu tư chăm sóc giáo dục trẻ những năm đầu đời
là đầu tư có hiệu quả nhất
Hãy hành động ngay vì tương lai của trẻ

Đây là Dự án Nghiên cứu hiện trạng giáo dục mầm non tại vùng nông thôn, dân tộc miền núi nghèo và đánh giá hiệu quả giáo dục mầm non với sự phát triển của trẻ em tại các bậc học tiếp theo

 
Tổng quan
1.Đặt vấn đề
  2.Nội dung và phương pháp
3.Kết quả nghiên cứu
4.Kết luận
5.Tài liệu tham khảo


 
Phiếu thăm ḍ ư kiến

Theo bạn, đầu tư cho giáo dục mầm non là:

Rất quan trọng
Bình thường
Không quan trọng
Ý kiến khác
 


   2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

 

2.1 Địa điểm tiến hành

Việc lựa chọn địa điểm tiến hành nghiên cứu cần căn cứ vào mục đích và yêu cầu của công tác nghiên cứu. Một số tiêu chí cơ bản để chọn địa điểm như: (1) Các mẫu nghiên cứu có cùng một điều kiện tự nhiên, kinh tế xă hội như nhau; (2) Địa điểm chọn cần phải có đủ các trường học để trẻ em có thể tiếp cận các bậc học từ mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; (3) Có thành phần dân tộc thiểu số cao; (4) Có tỷ lệ hộ nghèo cao so với các xóm khác.
Từ những tiêu chí đó, Hội nghị tư vấn có sự tham gia của các cấp, các ngành địa phương đă thống nhất chọn địa điểm nghiên cứu tại xóm Đồng Quan xă Bàn Đạt huyện Phú Bình.

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả của giáo dục mầm non về sự phát triển đối với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo.
Đánh giá hiệu quả của việc trẻ được tham gia chương tŕnh chăm sóc giáo dục mầm non đầy đủ/không đầy đủ đối với sự phát triển và học tập của trẻ ở bậc học tiếp theo bao gồm tiểu học, THCS và THPT.
Đánh giá hiệu quả đầu tư của gia đ́nh đối với việc trẻ được tham gia chương tŕnh chăm sóc giáo dục mầm non sớm đến sự phát triển và học tập của trẻ em ở các giai đoạn tiếp theo.

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu: Phải cùng thôn/xóm, cùng dân tộc. Ưu tiên chọn những gia đ́nh có các cháu tham gia giáo dục mầm non sớm (Từ 3-4 tuổi) và tham gia muộn (Từ 5 tuổi). Đảm bảo trong số mẫu chọn nghiên cứu có đủ các mức thu nhập khác nhau (Khá, trung b́nh và nghèo).
Chọn mẫu nghiên cứu: Chọn trẻ em tại ba cấp học: Mầm non; Tiểu học, Trung học cơ sở và THPT. Tổng số hộ gia đ́nh chọn nghiên cứu là 12 hộ. Trong đó:

Đối với độ tuổi giáo dục mầm non:
Do ở xóm Đồng Quan chưa có nhà trẻ nên 100% trẻ dưới 3 tuổi không được tiếp cận giáo dục nhà trẻ (Không có nhà trẻ). Đối với giai đoạn mẫu giáo có hai trường hợp xảy ra: Một số cháu được tiếp cận mẫu giáo từ 3-4 tuổi (Người dân địa phương thường gọi là lớp mẫu giáo nhỡ) và phần lớn các cháu tham gia mẫu giáo từ 5 tuổi (Người dân gọi là mẫu giáo lớn). V́ thế có thể lấy hai h́nh thức này để đánh giá tuổi tiếp cận giáo dục mầm non của các cháu ở xóm Đồng Quan.

Số lượng chọn mẫu nghiên cứu: 4 cháu (2 cháu tham gia từ năm 3-4 tuổi, 2 cháu tham gia từ năm 5 tuổi).

Đối với độ tuổi học sinh tiểu học:
Chọn 4 em (2 em tham gia GDMN từ năm 3 tuổi, 2 em tham gia từ năm 5 tuổi).
Đối với độ tuổi học sinh THCS:
Chọn 2 em (1 em tham gia từ khi 3-4 tuổi, 1 em tham gia từ khi 5 tuổi).
Đối với độ tuổi THPT:
Chọn 2 em (1 em tham gia từ 3-4 tuổi, hiện đang học THPT; 1 em tham gia từ 5 tuổi hiện đă bỏ học).

Danh sách trẻ em thuộc xóm Đồng Quan lựa chọn tham gia chương tŕnh đánh giá:

Chủ hộ

Tên học sinh

Bậc học năm 2007-2008

Đi học mẫu giáo

1. Mẫu giáo

 

 

 

Diệp Văn Chung

Diệp Văn Cảnh

Mẫu giáo 5-6

Năm 3 tuổi

Diệp Văn Báo

Diệp Thị Nhung

Mẫu giáo 5-6

Năm 3 tuổi

Trần Thị Liên

Trần Văn Bảy

Mẫu giáo 5-6

Năm 5 tuổi

Trương Văn Thắng

Trương Thị Hà

Mẫu giáo 5-6

Năm 5 tuổi

2. Tiểu học

 

 

 

Trần Văn Bảy

Trần Thị Thuư

Lớp 3

Lúc 5 tuổi

Diệp Thị Chín

Tạ Thị Trang

Lớp 2

Lúc 5 tuổi

Âu Thị Sáu

Nguyễn Thị Thanh Hiền

Lớp 1

Lúc 3 tuổi

Đỗ Xuân Nghĩa

Đỗ Thị Phương Thảo

Lớp 3

Lúc 3 tuổi

3. THCS

 

 

 

Ngô Thị Ngọc*

Diệp Văn Hưng A

Lớp 6

Lúc 5 tuổi

Diệp Thị Yến

Lớp 2

Lúc 3 tuổi

La Thị Sinh*

Vũ Văn Dũng

Lớp 8

Lúc 5 tuổi

Vũ Thanh Sơn

Lớp 6

Lúc 3 tuổi

4. THPT

 

 

 

Diệp Văn Phúc

Diệp Thị Thảo

Lớp 11

Lúc 4 tuổi

Diệp Văn Thái

Diệp Thị Hoa

Lớp 10

Lúc 5 tuổi

Ghi chú: Trường hợp gia đ́nh có hai trẻ, một trẻ đi học mẫu giáo sớm, một trẻ đi học muộn

 2.4 Phương pháp nghiên cứu

  • Thống kê tại thời điểm nghiên cứu về t́nh h́nh trẻ đi học các bậc học Mầm non, Tiểu học và THCS tại thôn điểm: Áp dụng phương pháp điều tra qua biểu mẫu
  • Phân tích mối liên quan giữa sự phát triển của trẻ tại các bâc học tiếp theo với yếu tố: Được đi học mầm non sớm hay muộn:
    Khảo sát về kết quả học tập của tất cả học sinh thuộc xóm Đồng Quan ở bậc học Tiểu học, kết quả học tập được đánh giá theo quá tŕnh học.Khảo sát t́nh h́nh tham gia mẫu giáo sớm hay muộn của số học sinh này thông qua sổ sách theo dơi của trường mầm non. Từ đó tiến hành phân tích, đánh giá môi liên quan giữa sự phát triển của trẻ ở các bậc học tiếp theo với yếu tố trẻ được đi học mầm non sớm hay muộn.
  • Đối với các trường hợp nghiên cứu cụ thể:
    • Áp dụng phương pháp nghiên cứu so sánh trực tiếp trên đối tượng nghiên cứu đối với trẻ ở độ tuổi Giáo dục mầm non: Việc chọn mẫu nghiên cứu cần đảm bảo đồng đều về một số yếu tố như dân tộc, độ tuổi, giới tính (nam/nữ), sức khoẻ… Tiêu chí đánh giá khi trẻ đạt 6 tuổi (Kết thúc giai đoạn mẫu giáo): dựa trên sự phát triển của trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, t́nh cảm xă hội và thẩm mỹ (Bảng 1. Phần phụ lục). Thu thập số liệu từ Trung tâm giáo dục mầm non thôn và đánh giá trực tiếp với các trẻ. Từ kết quả thu được trên thực tế, đưa ra bảng xếp loại và so sánh.

    • Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn giáo viên trường Tiểu học, THCS, THPT trên các mặt như: Kết quả học tập, đạo đức, mức độ tham gia các phong trào của lớp…So sánh đối với hai trường hợp nhóm trẻ được tham gia chăm sóc giáo dục mầm non (khi 3-4 và 5 tuổi). (Xem Bảng 2. phần phụ lục)

    • Đánh giá của cộng đồng (Thôn/bản) đối với những trường hợp nghiên cứu về hiệu quả của chương tŕnh giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ: như phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, t́nh cảm xă hội và nhận thức thẩm mỹ. Đánh giá thông qua phiếu phỏng vấn, đối tượng phỏng vấn là các bậc phụ huynh, lănh đạo các ban ngành đoàn thể… (Xem Bảng 3. phần phụ lục).

  • Đánh giá hiệu quả đầu tư của gia đ́nh khi cho trẻ tiếp cận giáo dục mầm non sớm đối với sự phát triển và học tập của trẻ giai đoạn tiếp theo phương pháp:

    • + Điều tra Thu nhập của gia đ́nh trẻ nghiên cứu tại thời điểm đi trẻ và thời điểm nghiên cứu (Bảng 4. Phần phụ lục).

    • + Tính toán Chi phí đầu tư cho một trẻ đi đi mẫu giáo (Lúc 3-4 tuổi và lúc 5 tuổi), từ đó xác định tỷ lệ % của chi phí cho giáo dục mầm non (đi mẫu giáo) trong thu nhập của gia đ́nh.

    • + Tính toán Chi phí học tập thêm để đảm bảo cho trẻ tham gia giáo dục mầm non muộn (lúc 5 tuổi) có kết quả học tập bằng với trẻ em được tham gia giáo dục mầm non sớm (lúc 3-4 tuổi): có thể là bằng tiền hoặc thời gian tính bằng công lao động để hỗ trợ, bồi dưỡng cho trẻ em…

  • Đánh giá hiệu quả của xă hội đối với việc trẻ được tiếp cận giáo dục mầm non sớm và muộn:

Xác định, so sánh trong xóm/nhóm dân cư có số lượng trẻ em được tham gia giáo dục mầm non sớm và muộn khác nhau về một số chỉ số như số lượng trẻ em học ở các bậc học cao hơn, học nghề, thoát ly lao động bên ngoài, tham gia các hoạt động của địa phương, phát triển kinh tế gia đ́nh tốt hơn…

  • Chia sẻ thông tin trên trang web của tỉnh Thái Nguyên: Xây dựng Thông điệp về việc đầu tư cho giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ sau này trên trang web. Tổng hợp số lượng người truy cập, các thông tin chính chia sẻ về nội dung này.

 

Copyright © 2008 Thai Nguyen University LRC