Đầu tư chăm sóc giáo dục trẻ những năm đầu đời
là đầu tư có hiệu quả nhất
Hãy hành động ngay vì tương lai của trẻ

Đây là Dự án Nghiên cứu hiện trạng giáo dục mầm non tại vùng nông thôn, dân tộc miền núi nghèo và đánh giá hiệu quả giáo dục mầm non với sự phát triển của trẻ em tại các bậc học tiếp theo

 
Tổng quan
1.Đặt vấn đề
2.Nội dung và phương pháp
  3.Kết quả nghiên cứu
4.Kết luận
5.Tài liệu tham khảo


 
Phiếu thăm dò ý kiến

Theo bạn, đầu tư cho giáo dục mầm non là:

Rất quan trọng
Bình thường
Không quan trọng
Ý kiến khác
 

   3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


3.1 Một số thông tin chung về xóm Đồng Quan xã Bàn Đạt huyện Phú Bình

Xóm Đồng Quan là một xóm vùng sâu của xã Bàn Đạt. Cả xóm có 178 hộ dân với 839 nhân khẩu. Trong đó chủ yếu là bà con dân tộc Sán Dìu (Chiếm 89,99%), dân tộc Tày Nùng chiếm 3,10%. Phần lớn nhân dân trong xóm sống bằng nghề sản xuất nông lâm nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân, nhưng tỷ lệ hộ nghèo của xóm vẫn rất cao, chiếm tới 58,43%. Đây là một trong những thách thức và ảnh hưởng rất lớn đến tình hình học tập của con em trong xóm.

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Kết quả

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Tổng số hộ

hộ

178

 

2

Tổng số nhân khẩu

người

839

 

3

Trong đó

 

 

 

 

Kinh

người

58

6,91

 

Sán Dìu

người

755

89,99

 

Tày, Nùng

người

26

3,10

4

Phân loại kinh tế hộ

 

 

 

 

Nghèo

hộ

104

58,43

 

Trung bình

hộ

74

41,57

 Bảng 1. Thông tin chung về kinh tế xã hội của xóm Đồng Quan xã Bàn Đạt huyện Phú Bình

3.2 Thực trạng tình hình trẻ em tham gia chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non và các bậc học khác của xóm Đồng Quan.

Số liệu thống kê về tình hình trẻ em tham gia giáo dục mầm non và các bậc học khác năm học 2007-2008 được trình bày tại Bảng 2.

STT

Chỉ tiêu

GDMN

Tiểu học

THCS

THPT

Nhà trẻ

Mẫu giáo 3-4 tuổi

Mẫu giáo 5-6 tuổi

1

Số lượng trẻ em trong độ tuổi

68

43

23

99

73

55

2

Số trẻ em đi học

0

22

22

96

65

7

3

Tỷ lệ trẻ đi học (%)

0

51,16

95,65

96,97

89,04

12,73

4

Số trẻ không đi học

68

21

1

3

8

48

5

Tỷ lệ trẻ không đi học (%)

100

48,84

4,35

3,03

10,96

87,27

Bảng 2.  Thống kê về tình hình trẻ em tham gia các bậc học của xóm Đồng Quan (Năm học 2007-2008)

Trong năm học 2007-2008, tại xóm Đồng Quan có 68 trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ (0 – 3 tuổi) và 66 trẻ trong độ tuổi đi mẫu giáo (3 – 6 tuổi). Do không có nhà trẻ tại xóm, nên 100% số trẻ trong độ tuổi không được gửi trẻ. Phần lớn trẻ trong độ tuổi mẫu giáo chỉ tham gia lớp mẫu giáo khi đạt 5 tuổi, với lý do chính là đảm bảo yêu cầu để được tham gia học tiểu học (Chiếm tới 95,65%), chỉ có 1 em không tham gia vì lý do sức khoẻ. Trong độ tuổi 3 - 4 tuổi, tỷ lệ các trẻ tham gia mẫu giáo chỉ đạt 51,16%, số trẻ không tiếp cận với giáo dục mầm non ở độ tuổi này lên đến 48,84%.

Trong khi đó tỷ lệ trẻ em tham gia bậc học tiểu học và trung học cơ sở rất cao (chiếm tới 96,97% và 89,04% theo thứ tự). Phân tích thực trạng tham gia giáo dục mầm non của trẻ em của xóm Đồng Quan, phần lớn người dân cho biết do những nguyên nhân như không có trường học (Tại xóm chỉ có một trường học dành cho lớp mẫu giáo, không có nhà trẻ); phần lớn trẻ em là người dân tộc Sán Dìu, không biết tiếng phổ thông nên ngại đi học; các bậc phụ huynh không coi trọng việc đưa trẻ đến nhà trẻ hoặc mẫu giáo từ sớm và phần lớn những người được tham vấn đều không nhận thức đúng về vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ em. Họ cho rằng, trẻ em còn quá bé để dạy dỗ và thường phó mặc việc trông trẻ cho ông bà hoặc các anh chị lớn hơn. Tuy nhiên, khi trao đổi về lý do tại sao ngay tại xóm với sự hỗ trợ của Tổ chức Plan, đã có một nhà mẫu giáo khang trang, mà con em họ vẫn không được đến trường từ sớm (giai đoạn 3-4 tuổi) thì phần lớn những người được hỏi đều đổ cho lý do kinh tế!


Biểu đồ 1. Số lượng trẻ em tham gia các chương trình giáo dục của xóm Đồng Quan

3.3 Mối liên quan giữa sự phát triển của trẻ ở giai đoạn tiếp theo với yếu tố được tham gia GDMN sớm hay muộn:

Khảo sát kết quả học tập của học sinh xóm Đồng Quan ở bậc tiểu học trong năm học 2008 (Từ lớp 1 - lớp 4, những năm đã có trường mầm non của xóm Đồng Quan) cho thấy, trẻ đi học mẫu giáo sớm có kết quả học tập tốt hơn so với đi học muộn. Trong tổng số 7 trẻ đi học mẫu giáo từ năm 3 tuổi, 85,71% đạt loại giỏi, 14,29% đạt loại khá, không có học sinh có kết quả học tập trung bình và yếu kém. Đối với những trẻ đi học muộn hơn (lúc 4 tuổi) tỷ lệ học sinh giỏi đạt 26,19%; học sinh khá chiếm 45,24%. Ở những học sinh đi học lúc 5 tuổi tỷ lệ học sinh giỏi giảm rõ rệt chỉ còn 5,88%, học sinh khá là 41,18%, tỷ lệ học sinh trung bình và yếu kém tăng lên rất nhiều. Điều này cho thấy, hiệu quả của việc đầu tư trường mẫu giáo ở xóm đã làm tăng tỷ lệ học sinh học khá giỏi (Bảng 3 và Biểu đồ 2).

STT

Kết quả học tập

Học
mẫu giáo lúc 3 tuổi

Học
mẫu giáo lúc 4 tuổi

Học
mẫu giáo lúc 5 tuổi

Tổng cộng

SL

%

SL

%

SL

%

1

Giỏi

6

85,71

11

26,19

2

5,88

19

2

Khá

1

14,29

19

45,24

14

41,18

34

3

Trung bình

0

0

10

23,81

14

41,18

24

4

Yếu

0

0

1

2,38

3

8,82

4

5

Kém

0

0

1

2,38

1

2,94

2

6

Tổng số

7

 

42

 

34

 

83

Bảng 3. Khảo sát kết quả học tập của học sinh xóm Đồng Quan ở bậc tiểu học theo lứa tuổi lúc đi học mẫu giáo

Biểu đồ 2. Phân loại kết quả học tập của học sinh xóm Đồng Quan theo tuổi đi học mẫu giáo

 3.4. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ trong độ tuổi đi mẫu giáo

Để đánh giá hiệu quả của việc cho trẻ em tiếp cận sớm với các chương trình chăm sóc và giáo dục mầm non (Giai đoạn mẫu giáo) đối với sự phát triển của trẻ ở độ tuổi này, chúng tôi tiến hành chọn hai trẻ được tham gia chương trình từ khi 3-4 tuổi (gọi tắt là tham gia sớm) và hai trẻ tham gia khi đạt 5 tuổi (Gọi tắt là tham gia muộn). Kết quả đánh giá cho thấy:

  • Về phát triển thể chất, trẻ được tham gia sớm hơn có mức độ hoạt động đi, chạy phối hợp chân tay và nhận biết một số vật dụng xung quanh tốt hơn.

  • Về phát triển nhận thức, trẻ tham gia sớm thường xuyên đặt các câu hỏi tại sao, làm thế nào? Mức độ phân biệt một số vấn đề như phân biệt ngày giờ, to nhỏ, hình vuông, hình chữ nhật; phân biệt vận dụng hàng ngày nhanh hơn nhiều so với trẻ đến lớp chậm.

  • Về phát triển ngôn ngữ, trẻ nhận dạng chữ cái và phát âm nhanh, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc. Trẻ được tiếp cận sớm với giáo dục mầm non mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.

  • Về phát triển tình cảm xã hội, trẻ thường xuyên chia sẻ, hợp tác với bạn bè, quan tâm đến bố mẹ, cô giáo, vui vẻ khi được giao nhiệm vụ, giữ gìn đồ chơi, gọn gàng ngăn nắp và đã hình thành nếp giữ gìn vệ sinh môi trường như biết bỏ rác vào nơi quy định…

  • Về thẩm mỹ, trẻ thường xuyên tham gia các hoạt động như múa hát, kể chuyện. Trong khi trẻ tham gia mẫu giáo chậm thường bẽn lẽn, ngại ngùng khi được chỉ định hoặc mời tham gia những hoạt động này.

Ngay cả các bậc phụ huynh khi được hỏi đều thừa nhận con em họ khi được đến trường sớm đều có những sự phát triển tốt hơn so với ở nhà. Đặc biệt về nhận thức và giao tiếp với mọi người xung quanh. Điều này cho thấy hiệu quả của công tác giáo dục mầm non đối với trẻ em của xóm Đồng Quan.

 3.5. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục mầm non đối với kết quả học tập và phát triển của học sinh bậc tiểu học, THCS, THPT

Kết quả khảo sát về kết quả học tập và sự phát triển của học sinh bậc tiểu học được trình bày tại Bảng 3.

Kết quả khảo sát 5 em đang học tại trường tiểu học xã Bàn Đạt (3 em tham gia GDMN sớm và 2 em tham gia GDMN muộn), chúng tôi thấy trong năm học 2007-2008 các em được tham gia mẫu giáo từ sớm có học lực đạt khá giỏi rất cao (3/3) nhưng với những em tham gia mẫu giáo muộn chỉ có học lực loại trung bình (2/2). Điều này cho thấy các em được đi học sớm, đã tích luỹ được phương pháp và nề nếp học tập, đặc biệt theo đánh giá của các bậc phụ huynh và các thày cô giáo, những em tham gia mẫu giáo sớm thường có tác phong học tập tốt hơn, tự giác học tập, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến nên thường tiếp thu bài tốt hơn.

Đánh giá về một số chỉ tiêu như sự quan tâm đến mọi người xung quanh, thái độ hợp tác chia xẻ với bạn bè, ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp … các thày cô giáo và người dân trong thôn đều đánh giá tốt hơn đối với các em được tham gia mẫu giáo từ sớm. Điều này cho thấy, việc tham gia GDMN từ sớm có tác động tốt đến sự phát triển của trẻ ngay từ bậc học tiểu học.

STT

Nội dung

Tham gia GDMN sớm

Tham gia GDMN muộn

1

Số lượng em khảo sát

3

2

2

Kết quả học tập năm 2007-2008

Khá (1); giỏi (2)

Trung bình (2/2)

3

Kết quả xếp loại đạo đức

Đạt (3/3)

Đạt (2/2)

4

Thực hiện nội quy của lớp - nhà trường

Tốt (3/3)

Bình thường (2/2)

5

Có hành vi thể hiện sự quan tâm với mọi người

Tốt (2), Bình thường 1

Bình thường (2/2)

6

Có thái độ hợp tác, chia xẻ với bạn bè

Tốt (3/3)

Bình thường (2/2)

7

Vui vẻ nhận và thực hiện nhiệm vụ được giao

Tốt (3/3)

Bình thường (2/2)

8

Có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường

Tốt (3/3)

Tốt (1); Bình thường (1)

9

Có ý thức tiết kiệm

Tốt (2); Bình thường (1)

Tốt (1); Bình thường (1)

10

Mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp

Tốt (3/3)

Không tốt (1); Bình thường (1)

11

Có nhu cầu và cảm hứng khi tham gia hoạt động VN-XH

Bình thường (3/3)

Bình thường (2/2)

Bảng 4. Tổng hợp về kết quả học tập và đánh giá của nhà trường về học sinh đang học tiểu học của xóm Đồng Quan

Kết quả khảo sát về kết quả học tập và sự phát triển của học sinh bậc THCS được trình bày tại Bảng 4.

Khảo sát kết quả học tập và một số tiêu chí đánh giá sự phát triển của trẻ em ở bậc học THCS chúng tôi thấy, các em được tham gia mẫu giáo từ sớm vẫn giữ được lực học tốt hơn các em đi học mẫu giáo muộn (Phần lớn các em tham gia mẫu giáo muộn có lực học trung bình). Trong khi các tiêu chí về đánh giá sự phát triển của trẻ như việc thực hiện nội quy của trường, thái độ hợp tác chia xẻ với bạn bè, ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường v.v. có xu hướng đồng đều nhau ở cả hai trường hợp tham gia mẫu giáo sớm và muộn. Điều này cho thấy, việc hiệu quả của việc tham gia mẫu giáo sớm đối với sự phát triểntoàn diện của học sinh.

STT

Nội dung

Tham gia GDMN sớm

Tham gia GDMN muộn

1

Số lượng em khảo sát

1

2

2

Kết quả học tập năm 2007-2008

Khá (1)

Trung bình (2/2)

3

Kết quả xếp loại đạo đức

Đạt (1)

Đạt (2/2)

4

Thực hiện nội quy của lớp - nhà trường

Tốt (1)

Tốt (2/2)

5

Có hành vi thể hiện sự quan tâm với mọi người

Tốt (1)

Tốt (2/2)

6

Có thái độ hợp tác, chia xẻ với bạn bè

Tốt (1)

Tốt (1); Bình thường (1)

7

Vui vẻ nhận và thực hiện nhiệm vụ được giao

Tốt (1)

Tốt (2/2)

8

Có ý thực giữ gìn, bảo vệ môi trường

Bình thường (1)

Tốt (1); Bình thường (1)

9

Có ý thức tiết kiệm

Tốt (1)

Tốt (2/2)

10

Mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp

Tốt (1)

Tốt (1); Bình thường (1)

11

Có nhu cầu và cảm hứng khi tham gia hoạt động VN-XH

Bình thường (1)

Bình thường (2/2)

Bảng 5. Tổng hợp về kết quả học tập và đánh giá của nhà trường về học sinh đang học THCS của xóm Đồng Quan

        Bà Ngô Thị Ngọc xóm Đồng Quan cho biết, bà có hai con là Diệp Văn Hưng hiện đang học lớp 6, tham gia mẫu giáo từ năm 5 tuổi (Tham gia GDMN muộn) và cháu Diệp Thị Yến hiện đang học lớp 2, tham gia mẫu giáo từ khi 3 tuổi (Tham gia GDMN sớm). Bà nhận xét trong hai đứa con của bà, cháu Hưng có học lực kém hơn, trong năm học 2007-2008 cháu chỉ đạt học lực trung bình, rất ngại tiếp xúc với người ngoài. Trong khi cháu Yến từ khi đi học đến nay toàn đạt danh hiệu học sinh giỏi. Theo bà lý do cháu Yến được đi học mẫu giáo từ sớm, cháu nhanh nhẹn trong giao tiếp, cởi mở với thầy cô và bạn bè, cháu có nếp học tập ngay từ nhỏ, nên chịu khó học tập, thường xuyên làm bài đầy đủ trước khi đến lớp, không cần bố mẹ phải nhắc nhở. 


Hình 1: Em Diệp Thị Yến học sinh lớp 2B và Giấy khen học sinh giỏi năm học 2007-2008.

        Bà La Thị Sinh có hai con Vũ Văn Dũng hiện đang học lớp 8, đi học mẫu giáo khi đạt 5 tuổi, và cháu Vũ Thanh Sơn hiện đang học lớp 6, theo anh đi học mẫu giáo từ khi 3 tuổi (Lý do ở nhà không có người trông nên cháu Sơn phải theo anh đến trường mầm non). Về học lực, cháu Dũng chỉ đạt trung bình, trong khi đó cháu Sơn trong suốt các năm học tiểu học, cháu đều đạt loại giỏi. Khi học lớp 5, cháu tham gia đội tuyển trường đi thi học sinh giỏi cấp huyện, đạt giải ba toàn đoàn. Bà Sinh cho biết, cháu Sơn do được các cô ở lớp mẫu giáo dạy dỗ ngay từ nhỏ nên cháu học chăm chỉ, có nề nếp và cháu rất tự tin, mạnh dạn.


Hình 2.
Hai anh em Dũng và Sơn bên góc học tập tại nhà

Kết quả khảo sát về tình hình học sinh của xóm Đồng Quan tham gia học tại trường THPT được trình bày tại bảng 6.

STT

Nội dung

Năm học 2007-2008

Năm học 2008-2009

1

Số lượng em trong độ tuổi đi học PTTH

55

65

2

Số lượng em đi học

9

13

3

Tỷ lệ %

16,36

20,00

4

Số em có bằng tốt nghiệp THPT (Tính đến T8/2008)

6

 

5

Số em thi đỗ đại học (Tính đến T8/2008)

1

 

 Bảng 6. Tổng hợp về tình hình học sinh của xóm Đồng Quan tham gia học THPT

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ các em trong độ tuổi đi học THPT của xóm Đồng Quan trong năm học 2007-2008 là 55 em, trong đó chỉ có 9 em theo học THPT chiếm 16,36%. Trong năm học tới (Năm học 2008-2009) trong số 65 em ở độ tuổi đi học có 13 em đã thi đỗ vào Trường THPT Trại Cau chiếm 20%. So với các bậc học TH và THCS thì tỷ lệ học sinh học THPT của xóm Đồng Quan rất thấp, lý do cơ bản là các em không đủ điểm tuyển vào các trường THPT, ngoài ra do suy nghĩ của các bậc phụ huynh và phần lớn các em học sinh chỉ cần học xong THCS là được, nếu có học lên nữa cũng chẳng để làm gì. Điều này cho thấy, những suy nghĩ và nhận thức có phần buông xuôi của cộng đồng đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và phát triển của trẻ. Rất nhiều em còn trong độ tuổi đi học đã “gác bút” ở nhà theo nghiệp nhà nông mà chưa hề được trang bị bất cứ một hành trang nào cho cuộc sống, cam chịu những vất vả, khó khăn mà bố mẹ các em đã và đang từng ngày phải đối mặt. Và cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo vẫn tiếp tục đeo đẳng bám lấy cuộc đời các em.

Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã thấy le lói nhưng tia hy vọng của sự nghiệp trồng người của xóm Đồng Quan. Năm 2002, trong xóm lần đầu tiên đã có em học sinh có bằng tốt nghiệp THPT, cho đến năm học 2008 cả xóm đã có 6 em có bằng THPT. Lần đầu tiên, năm 2008 xóm Đồng Quan đã có một em thi đỗ vào trường Đại học. Mặc dù vẫn biết con số này chẳng thấm vào đâu so với số dân của cả xóm, nhưng cũng là những bằng chứng cho thấy phần nào sự quan tâm của người dân đối với công tác giáo dục cũng như hiệu quả của sự nỗ lực của các cơ quan, tổ chức trong quá trình hỗ trợ người dân xóm Đồng Quan nói riêng và cả xã Bàn Đạt nói chung.

3.6. Hiệu quả đầu tư của gia đình, xã hội cho chương trình giáo dục mầm non đối với sự phát triển và học tập ở các giai đoạn tiếp theo của trẻ em ở địa bàn nghiên cứu

Kết quả khảo sát kinh tế hộ của xóm Đồng Quan được trình bày tại Bảng 7.

STT

Nội dung

Nhóm hộ nghèo

Nhóm hộ trung bình

Nhóm hộ khá

1

Số hộ

3

3

2

2

Bình quân khẩu/ hộ

5

4

5

3

Nguồn thu nhập

 

 

 

 

Trồng trọt

5.457.333

8.916.667

11.605.000

 

Chăn nuôi

4.616.667

5.333.333

32.775.000

 

Ngành nghề phụ

0

0

0

 

Làm thêm

4.000.000

2.666.667

6.000.000

 

Lương, trợ cấp

0

7.133.333

0

4

Tổng thu nhập

12.740.667

24.050.000

50.380.000

5

Thu nhập/người

207.111

532.181

839.667

 Bảng 7. Phân tích thu nhập kinh tế hộ tại xóm Đồng Quan

Kết quả khảo sát kinh tế hộ cho thấy, nhóm hộ nghèo của xóm Đồng Quan có thu nhập bình quân/người/tháng là 207.111 đồng, nhóm hộ trung bình là 532.181 đồng và nhóm hộ khá là 839.667 đồng. Nguồn thu nhập của các hộ chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thêm (làm thuê, đào vàng…). Trong đó chủ lực là trồng trọt và chăn nuôi. Với thu nhập như vậy, nhóm hộ nghèo (Chiếm 58,43% tổng số hộ của xóm) có mức thu nhập rất thấp. Trong đó, chủ yếu năng suất vật nuôi cây trồng không cao. Khi phân tích về vấn đề này, họ đều cho rằng không có vốn đầu tư, nhưng về thực chất họ thiếu về kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, thiếu thông tin do rất nhiều người trong số họ đã “quên cách đọc sách, cách cầm bút” mà điều này không thể thiếu trong nền sản xuất của quá trình hội nhập, của thế kỷ 21, thế kỷ sản xuất theo công nghệ.

Kết quả phân tích mức độ đầu tư cho giáo dục của các hộ trong xóm Đồng Quan như sau (Bảng 8):

Với mức chi phí giáo dục mầm non là 1.130.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 770.000 đ), thì tỷ lệ đầu tư cho một em đi học mẫu giáo của nhóm hộ nghèo là 8,87% tổng thu nhập cả năm của một hộ, của nhóm hộ trung bình là 4,70% và của nhóm hộ khá là 2,24%.

Với mức chi phí giáo dục tiểu học là 850.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú =630.000, đã được miễn giảm học phí do là xã thuộc CT 135) thì tỷ lệ đầu tư cho một em tham gia bậc Tiểu học đối với hộ nghèo là 6,67%, hộ trung bình là 3,53% và hộ khá là 1,69%.

Trong khi đó với chính sách hỗ trợ học phí của các xã thuộc chương trình 135, chi phí giáo dục trung học cơ sở chỉ là 461.000 đ/năm/em thì tỷ lệ đầu tư của một hộ nghèo cho một em tham gia THCS chỉ còn 3,62%, hộ trung bình là 1,92% và hộ khá là 0,92%.

Tuy nhiên, với chi phí giáo dục THPT là 1.577.000 đ/năm/em (Đã trừ miễn giảm đóng góp xây dựng trường do thuộc xã 135) thì tỷ lệ đầu tư của hộ nghèo cho một em đi học THPT lên đến 12,38%, hộ trung bình là 6,56 % và hộ khá là 3,13%.

STT

Nội dung

Nhóm hộ nghèo

Nhóm hộ trung bình

Nhóm hộ khá

1

Số hộ

3

3

2

2

Tổng thu nhập

12.740.667

24.050.000

50.380.000

3

Tỷ lệ chi phí GDMN so với thu nhập (%)

8,87

4,70

2,24

4

Tỷ lệ chi phí GDTH so với thu nhập (%)

6,67

3,53

1,69

5

Tỷ lệ chi phí GDTHCS so với thu nhập (%)

3,62

1,92

0,92

6

Tỷ lệ chi phí GGTHPT so với thu nhập (%)

12,38

6,56

3,13

 Bảng 8. Phân tích đầu tư cho giáo dục của các hộ gia đình xóm Đồng Quan

Ghi chú: Chi phí giáo dục mầm non: 1.130.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 770.000 đ) Chi phí giáo dục tiểu học: 850.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 630.000, được miễn giảm học phí) Chi phí giáo dục trung học cơ sở: 461.000 đ/năm/em.Chi phí giáo dục THPT: 1.577.000 đ/năm/em (Đã trừ miễn giảm đóng góp xây dựng trường do thuộc xã 135).


 
Biểu đồ 3. Tỷ lệ chi phí giáo dục trong tổng thu nhập của người dân xóm Đồng Quan

 

Mức đầu tư cho giáo dục ở các bậc học giảm dần từ nhóm hộ nghèo đến nhóm hộ khá, và giảm dần từ GDMN đến THCS. Ở đây, chúng ta phải lưu ý mặc dầu mức đầu tư cho GDMN cao nhưng trong đó đã có cả 770.000 đồng tiền ăn bán trú cho các cháu, nếu trừ số tiền này đi thì chi phí học mẫu giáo cho một cháu chỉ còn 360.000 đ/năm và như thế chi phí học tập cho các cháu chỉ còn 2,82% đối với nhóm hộ nghèo, 1,49% với hộ trung bình và 0,71% với hộ khá. Với chi phí học tập như vậy chưa thực sự cao đối với các hộ ở xóm Đồng Quan và như thế việc trẻ em chưa được tiếp cận sớm với GDMN ở xóm Đồng Quan chưa phải do lý do kinh tế là chính mà là do nhận thức của người dân và một phần do chưa có cơ sở vật chất (Nhà trẻ) để trẻ em có thể được đến trường.

Trường hợp nhà Bà Ngô Thị Ngọc xóm Đồng Quan, mức thu nhập của nhà Bà là 17.780.000 đồng/năm (Hộ trung bình) chỉ đầu tư thêm 760.000 đồng (Tiền chi phí học hai năm mẫu giáo sớm) cho cháu Diệp Thị Yến, đã nâng lực học của cháu lên hai bậc so với người anh Diệp Văn Hưng chỉ được đi học mẫu giáo có một năm khi đã 5 tuổi. Bà đã  tính rằng, đã phải chi phí cho cháu Hưng mỗi tuần hai buổi học với chi phí 2000 đ/buổi (128.000 đ/năm) để có người kèm cặp thêm cũng chỉ giúp cháu khỏi lưu ban. Điều này cho thấy nếu trẻ em được tham gia GDMN sớm không những tạo điều kiện cho trẻ học tập và phát triển tốt hơn ở các giai đoạn tiếp theo mà còn giúp các hộ nghèo tiết kiệm tiền khi trẻ lớn lên.

Hiệu quả đầu tư của xã hội:

Một trong nhiều nguyên nhân mà trẻ em ở xóm Đồng Quan không được tiếp cận sớm với GDMN (Giai đoạn nhà trẻ) là do ở xóm không có nhà trẻ, một thực trạng không chỉ riêng ở xóm Đồng Quan của xã Bàn Đạt mà tương đối phổ biến ở các nơi khác thuộc vùng nông thôn miền núi. Trong khi ở những bậc học tiếp theo đều đã có những sự quan tâm, đầu tư tốt hơn. Dẫu biết rằng, chúng ta còn nhiều khó khăn, còn nhiều toan tính để cải thiện đời sống nhân dân, nhưng nếu tiếp tục thờ ơ với vấn đề này thì đến bao giờ trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo miền núi mới có cơ hội được chăm sóc, học tập ngay từ giai đoạn đầu tiên của cuộc đời.

Năm 2004, với sự hỗ trợ của tổ chức Plan Thái Nguyên, xóm Đồng Quan đã xây dựng mới một ngôi trường cho giáo dục mầm non (Chủ yếu cho cho độ tuổi mẫu giáo từ 3-6 tuổi). Tổng kinh phí xây dựng là 270 triệu đồng trong đó kinh phí của Tổ chức Plan là 266.300.000 đồng, đối ứng của nhân dân trong xóm là 3.700.000 đồng. Ngôi trường mới được xây dựng khang trang, tạo điều kiện cho con em trong xóm đến lớp dễ dàng. Từ đó đến nay, số lượng trẻ em được tham gia các lớp mẫu giáo đã tăng lên đáng kể, trong đó phải kể đến số trẻ em được tham gia mẫu giáo ngay từ khi 3-4 tuổi (Bảng 9). Trong dự toán, vì được thiết kế vững chắc, ngôi trường này có thể sử dụng khá lâu (Từ 20-25 năm). Với số lượng trẻ em đi học như hiện nay, thì khoản chi phí xây dựng trường chỉ tương đương với 180.000 đồng/cháu/năm (270 triệu/20 năm x 25 cháu/năm x 3 năm/cháu). Số tiền này chỉ tương đương với chi phí học thêm để trẻ không bị lưu ban chứ chưa giúp các cháu học tốt hơn, có thể vươn lên ở các bậc học cao hơn.

STT

Năm học

Số em đến lớp mẫu giáo từ 3-4 tuổi

Số em tham gia GDMN từ 5 tuổi

Số lượng

%

Số lượng

%

1

Năm học 2004-2005

 

 

 

 

2

Năm học 2005-2006

22

51,16

20

100

3

Năm học 2006-2007

23

53,49

23

100

4

Năm học 2007-2008

25

58,14

24

100

Bảng 9. Thống kê số lượng trẻ em của xóm Đồng Quan được tham gia GDMN từ khi có trường GDMN tại xóm


 

 
Biểu đồ 4. Đồ thị diễn giải tỷ lệ trẻ em tham gia giáo dục mầm non từ 3-4 tuổi


Hình 3. Ngôi trường mẫu giáo và các cháu lớp mẫu giáo 3-4 tuổi đang vui chơi ở xóm Đồng Quan


 

Copyright © 2008 Thai Nguyen University LRC