|
3.1 Một số thông tin chung về xóm Đồng Quan xã Bàn Đạt huyện Phú
Bình
Xóm Đồng Quan là một xóm vùng sâu
của xã Bàn Đạt. Cả xóm có 178 hộ dân với 839 nhân khẩu. Trong đó
chủ yếu là bà con dân tộc Sán Dìu (Chiếm 89,99%), dân tộc Tày
Nùng chiếm 3,10%. Phần lớn nhân dân trong xóm sống bằng nghề sản
xuất nông lâm nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng trọt và chăn
nuôi. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong phát triển sản xuất và nâng
cao thu nhập cho người dân, nhưng tỷ lệ hộ nghèo của xóm vẫn rất
cao, chiếm tới 58,43%. Đây là một trong những thách thức và ảnh
hưởng rất lớn đến tình hình học tập của con em trong xóm.
|
STT |
Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Kết quả |
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
1 |
Tổng số hộ |
hộ |
178 |
|
|
2 |
Tổng số nhân khẩu |
người |
839 |
|
|
3 |
Trong đó |
|
|
|
|
|
Kinh |
người |
58 |
6,91 |
|
|
Sán Dìu |
người |
755 |
89,99 |
|
|
Tày, Nùng |
người |
26 |
3,10 |
|
4 |
Phân loại kinh tế hộ |
|
|
|
|
|
Nghèo |
hộ |
104 |
58,43 |
|
|
Trung bình |
hộ |
74 |
41,57 |
Bảng 1.
Thông tin chung về kinh tế xã hội của xóm Đồng Quan xã Bàn Đạt
huyện Phú Bình
3.2 Thực trạng tình hình trẻ
em tham gia chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non và các bậc
học khác của xóm Đồng Quan.
Số liệu thống kê về tình hình trẻ em
tham gia giáo dục mầm non và các bậc học khác năm học 2007-2008
được trình bày tại Bảng 2.
|
STT |
Chỉ tiêu |
GDMN |
Tiểu học |
THCS |
THPT |
|
Nhà trẻ |
Mẫu giáo 3-4 tuổi |
Mẫu giáo 5-6 tuổi |
|
1 |
Số lượng trẻ em trong độ
tuổi |
68 |
43 |
23 |
99 |
73 |
55 |
|
2 |
Số trẻ em
đi học |
0 |
22 |
22 |
96 |
65 |
7 |
|
3 |
Tỷ lệ trẻ đi học (%) |
0 |
51,16 |
95,65 |
96,97 |
89,04 |
12,73 |
|
4 |
Số trẻ không đi học |
68 |
21 |
1 |
3 |
8 |
48 |
|
5 |
Tỷ lệ trẻ không đi học (%) |
100 |
48,84 |
4,35 |
3,03 |
10,96 |
87,27 |
Bảng 2. Thống
kê về tình hình trẻ em tham gia các bậc học của xóm Đồng Quan
(Năm học 2007-2008)
Trong năm học 2007-2008, tại xóm
Đồng Quan có 68 trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ (0 – 3 tuổi) và 66
trẻ trong độ tuổi đi mẫu giáo (3 – 6 tuổi). Do không có nhà trẻ
tại xóm, nên 100% số trẻ trong độ tuổi không được gửi trẻ. Phần
lớn trẻ trong độ tuổi mẫu giáo chỉ tham gia lớp mẫu giáo khi đạt
5 tuổi, với lý do chính là đảm bảo yêu cầu để được tham gia học
tiểu học (Chiếm tới 95,65%), chỉ có 1 em không tham gia vì lý do
sức khoẻ. Trong độ tuổi 3 - 4 tuổi, tỷ lệ các trẻ tham gia mẫu
giáo chỉ đạt 51,16%, số trẻ không tiếp cận với giáo dục mầm non
ở độ tuổi này lên đến 48,84%.
Trong khi đó tỷ lệ trẻ em tham gia
bậc học tiểu học và trung học cơ sở rất cao (chiếm tới 96,97% và
89,04% theo thứ tự). Phân tích thực trạng tham gia giáo dục mầm
non của trẻ em của xóm Đồng Quan, phần lớn người dân cho biết do
những nguyên nhân như không có trường học (Tại xóm chỉ có một
trường học dành cho lớp mẫu giáo, không có nhà trẻ); phần lớn
trẻ em là người dân tộc Sán Dìu, không biết tiếng phổ thông nên
ngại đi học; các bậc phụ huynh không coi trọng việc đưa trẻ đến
nhà trẻ hoặc mẫu giáo từ sớm và phần lớn những người được tham
vấn đều không nhận thức đúng về vai trò của giáo dục mầm non đối
với sự phát triển của trẻ em. Họ cho rằng, trẻ em còn quá bé để
dạy dỗ và thường phó mặc việc trông trẻ cho ông bà hoặc các anh
chị lớn hơn. Tuy nhiên, khi trao đổi về lý do tại sao ngay tại
xóm với sự hỗ trợ của Tổ chức Plan, đã có một nhà mẫu giáo khang
trang, mà con em họ vẫn không được đến trường từ sớm (giai đoạn
3-4 tuổi) thì phần lớn những người được hỏi đều đổ cho lý do
kinh tế!

Biểu đồ 1.
Số lượng trẻ em tham gia các chương trình giáo dục của xóm Đồng
Quan
3.3 Mối liên quan giữa sự phát
triển của trẻ ở giai đoạn tiếp theo với yếu tố được tham gia
GDMN sớm hay muộn:
Khảo sát kết quả học tập của học
sinh xóm Đồng Quan ở bậc tiểu học trong năm học 2008 (Từ lớp 1 -
lớp 4, những năm đã có trường mầm non của xóm Đồng Quan) cho
thấy, trẻ đi học mẫu giáo sớm có kết quả học tập tốt hơn so với
đi học muộn. Trong tổng số 7 trẻ đi học mẫu giáo từ năm 3 tuổi,
85,71% đạt loại giỏi, 14,29% đạt loại khá, không có học sinh có
kết quả học tập trung bình và yếu kém. Đối với những trẻ đi học
muộn hơn (lúc 4 tuổi) tỷ lệ học sinh giỏi đạt 26,19%; học sinh
khá chiếm 45,24%. Ở những học sinh đi học lúc 5 tuổi tỷ lệ học
sinh giỏi giảm rõ rệt chỉ còn 5,88%, học sinh khá là 41,18%, tỷ
lệ học sinh trung bình và yếu kém tăng lên rất nhiều. Điều này
cho thấy, hiệu quả của việc đầu tư trường mẫu giáo ở xóm đã làm
tăng tỷ lệ học sinh học khá giỏi (Bảng 3 và Biểu đồ 2).
|
STT |
Kết quả học tập |
Học
mẫu giáo lúc 3 tuổi
|
Học
mẫu giáo lúc 4 tuổi
|
Học
mẫu giáo lúc 5 tuổi |
Tổng cộng |
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
|
1 |
Giỏi |
6 |
85,71 |
11 |
26,19 |
2 |
5,88 |
19 |
|
2 |
Khá |
1 |
14,29 |
19 |
45,24 |
14 |
41,18 |
34 |
|
3 |
Trung bình |
0 |
0 |
10 |
23,81 |
14 |
41,18 |
24 |
|
4 |
Yếu |
0 |
0 |
1 |
2,38 |
3 |
8,82 |
4 |
|
5 |
Kém |
0 |
0 |
1 |
2,38 |
1 |
2,94 |
2 |
|
6 |
Tổng số |
7 |
|
42 |
|
34 |
|
83 |
Bảng 3.
Khảo sát kết quả học tập của học sinh xóm Đồng Quan ở bậc tiểu
học theo lứa tuổi lúc đi học mẫu giáo

Biểu đồ 2.
Phân loại kết quả học tập của học sinh xóm Đồng Quan theo tuổi
đi học mẫu giáo
3.4. Kết quả nghiên cứu về
hiệu quả của giáo dục mầm non đối với sự phát triển của trẻ
trong độ tuổi đi mẫu giáo
Để đánh giá hiệu quả của việc cho
trẻ em tiếp cận sớm với các chương trình chăm sóc và giáo dục
mầm non (Giai đoạn mẫu giáo) đối với sự phát triển của trẻ ở độ
tuổi này, chúng tôi tiến hành chọn hai trẻ được tham gia chương
trình từ khi 3-4 tuổi (gọi tắt là tham gia sớm) và hai trẻ tham
gia khi đạt 5 tuổi (Gọi tắt là tham gia muộn). Kết quả đánh giá
cho thấy:
-
Về phát triển thể chất, trẻ được
tham gia sớm hơn có mức độ hoạt động đi, chạy phối hợp chân
tay và nhận biết một số vật dụng xung quanh tốt hơn.
-
Về phát triển nhận thức, trẻ
tham gia sớm thường xuyên đặt các câu hỏi tại sao, làm thế
nào? Mức độ phân biệt một số vấn đề như phân biệt ngày giờ,
to nhỏ, hình vuông, hình chữ nhật; phân biệt vận dụng hàng
ngày nhanh hơn nhiều so với trẻ đến lớp chậm.
-
Về phát triển ngôn ngữ, trẻ nhận
dạng chữ cái và phát âm nhanh, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ
ràng, mạch lạc. Trẻ được tiếp cận sớm với giáo dục mầm non
mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
-
Về phát triển tình cảm xã hội,
trẻ thường xuyên chia sẻ, hợp tác với bạn bè, quan tâm đến
bố mẹ, cô giáo, vui vẻ khi được giao nhiệm vụ, giữ gìn đồ
chơi, gọn gàng ngăn nắp và đã hình thành nếp giữ gìn vệ sinh
môi trường như biết bỏ rác vào nơi quy định…
-
Về thẩm mỹ, trẻ thường xuyên
tham gia các hoạt động như múa hát, kể chuyện. Trong khi trẻ
tham gia mẫu giáo chậm thường bẽn lẽn, ngại ngùng khi được
chỉ định hoặc mời tham gia những hoạt động này.
Ngay cả các bậc phụ huynh khi được
hỏi đều thừa nhận con em họ khi được đến trường sớm đều có những
sự phát triển tốt hơn so với ở nhà. Đặc biệt về nhận thức và
giao tiếp với mọi người xung quanh. Điều này cho thấy hiệu quả
của công tác giáo dục mầm non đối với trẻ em của xóm Đồng Quan.
3.5. Kết quả nghiên cứu về
hiệu quả của giáo dục mầm non đối với kết quả học tập và phát
triển của học sinh bậc tiểu học, THCS, THPT
Kết quả khảo sát về kết quả học tập
và sự phát triển của học sinh bậc tiểu học được trình bày tại
Bảng 3.
Kết quả khảo sát 5 em đang học tại
trường tiểu học xã Bàn Đạt (3 em tham gia GDMN sớm và 2 em tham
gia GDMN muộn), chúng tôi thấy trong năm học 2007-2008 các em
được tham gia mẫu giáo từ sớm có học lực đạt khá giỏi rất cao
(3/3) nhưng với những em tham gia mẫu giáo muộn chỉ có học lực
loại trung bình (2/2). Điều này cho thấy các em được đi học sớm,
đã tích luỹ được phương pháp và nề nếp học tập, đặc biệt theo
đánh giá của các bậc phụ huynh và các thày cô giáo, những em
tham gia mẫu giáo sớm thường có tác phong học tập tốt hơn, tự
giác học tập, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến nên thường tiếp
thu bài tốt hơn.
Đánh giá về một số chỉ tiêu như sự
quan tâm đến mọi người xung quanh, thái độ hợp tác chia xẻ với
bạn bè, ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, sự mạnh dạn, tự tin
trong giao tiếp … các thày cô giáo và người dân trong thôn đều
đánh giá tốt hơn đối với các em được tham gia mẫu giáo từ sớm.
Điều này cho thấy, việc tham gia GDMN từ sớm có tác động tốt đến
sự phát triển của trẻ ngay từ bậc học tiểu học.
|
STT |
Nội dung |
Tham gia GDMN sớm |
Tham gia GDMN muộn |
|
1 |
Số lượng
em khảo sát |
3 |
2 |
|
2 |
Kết quả học tập năm
2007-2008 |
Khá
(1); giỏi (2) |
Trung bình (2/2) |
|
3 |
Kết quả xếp loại đạo đức |
Đạt
(3/3) |
Đạt
(2/2) |
|
4 |
Thực hiện nội quy của lớp -
nhà trường |
Tốt
(3/3) |
Bình thường (2/2) |
|
5 |
Có hành vi thể hiện sự quan
tâm với mọi người |
Tốt
(2), Bình thường 1 |
Bình thường (2/2) |
|
6 |
Có thái độ hợp tác, chia xẻ
với bạn bè |
Tốt
(3/3) |
Bình thường (2/2) |
|
7 |
Vui vẻ nhận và thực hiện
nhiệm vụ được giao |
Tốt
(3/3) |
Bình thường (2/2) |
|
8 |
Có ý thức giữ gìn, bảo vệ
môi trường |
Tốt
(3/3) |
Tốt
(1); Bình thường (1) |
|
9 |
Có ý thức tiết kiệm |
Tốt
(2); Bình thường (1) |
Tốt
(1); Bình thường (1) |
|
10 |
Mạnh dạn, tự tin, chủ động
trong giao tiếp |
Tốt
(3/3) |
Không tốt (1); Bình thường (1) |
|
11 |
Có nhu cầu và cảm hứng khi
tham gia hoạt động VN-XH |
Bình thường (3/3) |
Bình thường (2/2) |
Bảng 4.
Tổng hợp về kết quả học tập và đánh
giá của nhà trường về học sinh đang học tiểu học của xóm Đồng
Quan
Kết quả khảo sát về kết quả học tập
và sự phát triển của học sinh bậc THCS được trình bày tại Bảng
4.
Khảo sát kết quả học tập và một số
tiêu chí đánh giá sự phát triển của trẻ em ở bậc học THCS chúng
tôi thấy, các em được tham gia mẫu giáo từ sớm vẫn giữ được lực
học tốt hơn các em đi học mẫu giáo muộn (Phần lớn các em tham
gia mẫu giáo muộn có lực học trung bình). Trong khi các tiêu chí
về đánh giá sự phát triển của trẻ như việc thực hiện nội quy của
trường, thái độ hợp tác chia xẻ với bạn bè, ý thức giữ gìn bảo
vệ môi trường v.v. có xu hướng đồng đều nhau ở cả hai trường hợp
tham gia mẫu giáo sớm và muộn. Điều này cho thấy, việc hiệu quả
của việc tham gia mẫu giáo sớm đối với sự phát triểntoàn diện
của học sinh.
|
STT |
Nội dung |
Tham gia GDMN sớm |
Tham gia GDMN muộn |
|
1 |
Số lượng
em khảo sát |
1 |
2 |
|
2 |
Kết quả học tập năm
2007-2008 |
Khá
(1) |
Trung bình (2/2) |
|
3 |
Kết quả xếp loại đạo đức |
Đạt
(1) |
Đạt
(2/2) |
|
4 |
Thực hiện nội quy của lớp -
nhà trường |
Tốt
(1) |
Tốt
(2/2) |
|
5 |
Có hành vi thể hiện sự quan
tâm với mọi người |
Tốt
(1) |
Tốt
(2/2) |
|
6 |
Có thái độ hợp tác, chia xẻ
với bạn bè |
Tốt
(1) |
Tốt
(1); Bình thường (1) |
|
7 |
Vui vẻ nhận và thực hiện
nhiệm vụ được giao |
Tốt
(1) |
Tốt
(2/2) |
|
8 |
Có ý thực giữ gìn, bảo vệ
môi trường |
Bình thường (1) |
Tốt
(1); Bình thường (1) |
|
9 |
Có ý thức tiết kiệm |
Tốt
(1) |
Tốt
(2/2) |
|
10 |
Mạnh dạn, tự tin, chủ động
trong giao tiếp |
Tốt
(1) |
Tốt
(1); Bình thường (1) |
|
11 |
Có nhu cầu và cảm hứng khi
tham gia hoạt động VN-XH |
Bình thường (1) |
Bình thường (2/2) |
Bảng 5.
Tổng hợp về kết quả học tập và đánh
giá của nhà trường về học sinh đang học THCS của xóm Đồng Quan
Bà Ngô Thị Ngọc xóm Đồng Quan cho biết, bà có hai con là Diệp
Văn Hưng hiện đang học lớp 6, tham gia mẫu giáo từ năm 5 tuổi
(Tham gia GDMN muộn) và cháu Diệp Thị Yến hiện đang học lớp 2,
tham gia mẫu giáo từ khi 3 tuổi (Tham gia GDMN sớm). Bà nhận xét
trong hai đứa con của bà, cháu Hưng có học lực kém hơn, trong
năm học 2007-2008 cháu chỉ đạt học lực trung bình, rất ngại tiếp
xúc với người ngoài. Trong khi cháu Yến từ khi đi học đến nay
toàn đạt danh hiệu học sinh giỏi. Theo bà lý do cháu Yến được đi
học mẫu giáo từ sớm, cháu nhanh nhẹn trong giao tiếp, cởi mở với
thầy cô và bạn bè, cháu có nếp học tập ngay từ nhỏ, nên chịu khó
học tập, thường xuyên làm bài đầy đủ trước khi đến lớp, không
cần bố mẹ phải nhắc nhở.

Hình 1: Em Diệp Thị Yến học sinh lớp 2B
và Giấy khen học sinh giỏi năm học 2007-2008.
Bà La Thị Sinh có hai con Vũ Văn Dũng hiện đang học lớp 8, đi
học mẫu giáo khi đạt 5 tuổi, và cháu Vũ Thanh Sơn hiện đang học
lớp 6, theo anh đi học mẫu giáo từ khi 3 tuổi (Lý do ở nhà không
có người trông nên cháu Sơn phải theo anh đến trường mầm non).
Về học lực, cháu Dũng chỉ đạt trung bình, trong khi đó cháu Sơn
trong suốt các năm học tiểu học, cháu đều đạt loại giỏi. Khi học
lớp 5, cháu tham gia đội tuyển trường đi thi học sinh giỏi cấp
huyện, đạt giải ba toàn đoàn. Bà Sinh cho biết, cháu Sơn do được
các cô ở lớp mẫu giáo dạy dỗ ngay từ nhỏ nên cháu học chăm chỉ,
có nề nếp và cháu rất tự tin, mạnh dạn.

Hình 2.
Hai anh em Dũng và Sơn bên góc học tập tại nhà
Kết quả khảo sát về tình hình học
sinh của xóm Đồng Quan tham gia học tại trường THPT được trình
bày tại bảng 6.
|
STT |
Nội dung |
Năm học 2007-2008 |
Năm học 2008-2009 |
|
1 |
Số lượng em trong độ tuổi đi
học PTTH |
55 |
65 |
|
2 |
Số lượng em đi học
|
9 |
13 |
|
3 |
Tỷ lệ % |
16,36 |
20,00 |
|
4 |
Số em có bằng tốt nghiệp
THPT (Tính đến T8/2008) |
6 |
|
|
5 |
Số em thi đỗ đại học (Tính
đến T8/2008) |
1 |
|
Bảng 6.
Tổng hợp về tình hình học sinh của xóm
Đồng Quan tham gia học THPT
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ các
em trong độ tuổi đi học THPT của xóm Đồng Quan trong năm học
2007-2008 là 55 em, trong đó chỉ có 9 em theo học THPT chiếm
16,36%. Trong năm học tới (Năm học 2008-2009) trong số 65 em ở
độ tuổi đi học có 13 em đã thi đỗ vào Trường THPT Trại Cau chiếm
20%. So với các bậc học TH và THCS thì tỷ lệ học sinh học THPT
của xóm Đồng Quan rất thấp, lý do cơ bản là các em không đủ điểm
tuyển vào các trường THPT, ngoài ra do suy nghĩ của các bậc phụ
huynh và phần lớn các em học sinh chỉ cần học xong THCS là được,
nếu có học lên nữa cũng chẳng để làm gì. Điều này cho thấy,
những suy nghĩ và nhận thức có phần buông xuôi của cộng đồng đã
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và phát triển của trẻ.
Rất nhiều em còn trong độ tuổi đi học đã “gác bút” ở nhà theo
nghiệp nhà nông mà chưa hề được trang bị bất cứ một hành trang
nào cho cuộc sống, cam chịu những vất vả, khó khăn mà bố mẹ các
em đã và đang từng ngày phải đối mặt. Và cái vòng luẩn quẩn của
sự đói nghèo vẫn tiếp tục đeo đẳng bám lấy cuộc đời các em.
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát,
chúng tôi đã thấy le lói nhưng tia hy vọng của sự nghiệp trồng
người của xóm Đồng Quan. Năm 2002, trong xóm lần đầu tiên đã có
em học sinh có bằng tốt nghiệp THPT, cho đến năm học 2008 cả xóm
đã có 6 em có bằng THPT. Lần đầu tiên, năm 2008 xóm Đồng Quan đã
có một em thi đỗ vào trường Đại học. Mặc dù vẫn biết con số này
chẳng thấm vào đâu so với số dân của cả xóm, nhưng cũng là những
bằng chứng cho thấy phần nào sự quan tâm của người dân đối với
công tác giáo dục cũng như hiệu quả của sự nỗ lực của các cơ
quan, tổ chức trong quá trình hỗ trợ người dân xóm Đồng Quan nói
riêng và cả xã Bàn Đạt nói chung.
3.6. Hiệu quả đầu tư của gia
đình, xã hội cho chương trình giáo dục mầm non đối với sự phát
triển và học tập ở các giai đoạn tiếp theo của trẻ em ở địa bàn
nghiên cứu
Kết quả khảo sát kinh tế hộ của xóm
Đồng Quan được trình bày tại Bảng 7.
|
STT |
Nội dung |
Nhóm hộ nghèo |
Nhóm hộ trung bình |
Nhóm hộ khá |
|
1 |
Số hộ |
3 |
3 |
2 |
|
2 |
Bình quân khẩu/ hộ |
5 |
4 |
5 |
|
3 |
Nguồn thu nhập |
|
|
|
|
|
Trồng trọt |
5.457.333 |
8.916.667 |
11.605.000 |
|
|
Chăn nuôi |
4.616.667 |
5.333.333 |
32.775.000 |
|
|
Ngành nghề phụ |
0 |
0 |
0 |
|
|
Làm thêm |
4.000.000 |
2.666.667 |
6.000.000 |
|
|
Lương, trợ cấp |
0 |
7.133.333 |
0 |
|
4 |
Tổng thu nhập |
12.740.667 |
24.050.000 |
50.380.000 |
|
5 |
Thu nhập/người |
207.111 |
532.181 |
839.667 |
Bảng 7.
Phân tích thu nhập kinh tế hộ tại xóm Đồng Quan
Kết quả khảo sát kinh tế hộ cho
thấy, nhóm hộ nghèo của xóm Đồng Quan có thu nhập bình
quân/người/tháng là 207.111 đồng, nhóm hộ trung bình là 532.181
đồng và nhóm hộ khá là 839.667 đồng. Nguồn thu nhập của các hộ
chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thêm (làm thuê, đào
vàng…). Trong đó chủ lực là trồng trọt và chăn nuôi. Với thu
nhập như vậy, nhóm hộ nghèo (Chiếm 58,43% tổng số hộ của xóm) có
mức thu nhập rất thấp. Trong đó, chủ yếu năng suất vật nuôi cây
trồng không cao. Khi phân tích về vấn đề này, họ đều cho rằng
không có vốn đầu tư, nhưng về thực chất họ thiếu về kỹ thuật sản
xuất nông nghiệp, thiếu thông tin do rất nhiều người trong số họ
đã “quên cách đọc sách, cách cầm bút” mà điều này không thể
thiếu trong nền sản xuất của quá trình hội nhập, của thế kỷ 21,
thế kỷ sản xuất theo công nghệ.
Kết quả phân tích mức độ đầu tư cho
giáo dục của các hộ trong xóm Đồng Quan như sau (Bảng 8):
Với mức chi phí giáo dục mầm non là
1.130.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 770.000 đ), thì tỷ
lệ đầu tư cho một em đi học mẫu giáo của nhóm hộ nghèo là 8,87%
tổng thu nhập cả năm của một hộ, của nhóm hộ trung bình là 4,70%
và của nhóm hộ khá là 2,24%.
Với mức chi phí giáo dục tiểu học là
850.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú =630.000, đã được miễn
giảm học phí do là xã thuộc CT 135) thì tỷ lệ đầu tư cho một em
tham gia bậc Tiểu học đối với hộ nghèo là 6,67%, hộ trung bình
là 3,53% và hộ khá là 1,69%.
Trong khi đó với chính sách hỗ trợ
học phí của các xã thuộc chương trình 135, chi phí giáo dục
trung học cơ sở chỉ là 461.000 đ/năm/em thì tỷ lệ đầu tư của một
hộ nghèo cho một em tham gia THCS chỉ còn 3,62%, hộ trung bình
là 1,92% và hộ khá là 0,92%.
Tuy nhiên, với chi phí giáo dục THPT
là 1.577.000 đ/năm/em (Đã trừ miễn giảm đóng góp xây dựng trường
do thuộc xã 135) thì tỷ lệ đầu tư của hộ nghèo cho một em đi học
THPT lên đến 12,38%, hộ trung bình là 6,56 % và hộ khá là 3,13%.
|
STT |
Nội dung |
Nhóm hộ nghèo |
Nhóm hộ trung bình |
Nhóm hộ khá |
|
1 |
Số hộ |
3 |
3 |
2 |
|
2 |
Tổng thu nhập |
12.740.667 |
24.050.000 |
50.380.000 |
|
3 |
Tỷ lệ chi phí GDMN so với
thu nhập (%) |
8,87 |
4,70 |
2,24 |
|
4 |
Tỷ lệ chi phí GDTH so với
thu nhập (%) |
6,67 |
3,53 |
1,69 |
|
5 |
Tỷ lệ chi phí GDTHCS so với
thu nhập (%) |
3,62 |
1,92 |
0,92 |
|
6 |
Tỷ lệ chi phí GGTHPT so với
thu nhập (%) |
12,38 |
6,56 |
3,13 |
Bảng 8.
Phân tích đầu tư cho giáo dục của các hộ gia đình xóm Đồng Quan
Ghi chú:
Chi phí giáo dục mầm non: 1.130.000
đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 770.000 đ) Chi phí giáo dục
tiểu học: 850.000 đ/năm/em (Kể cả tiền ăn bán trú = 630.000,
được miễn giảm học phí) Chi phí giáo dục trung học cơ sở:
461.000 đ/năm/em.Chi phí giáo dục THPT: 1.577.000 đ/năm/em (Đã
trừ miễn giảm đóng góp xây dựng trường do thuộc xã 135).

Biểu đồ 3.
Tỷ lệ chi phí giáo dục trong tổng thu nhập của người dân xóm
Đồng Quan
Mức đầu tư cho giáo dục ở các bậc
học giảm dần từ nhóm hộ nghèo đến nhóm hộ khá, và giảm dần từ
GDMN đến THCS. Ở đây, chúng ta phải lưu ý mặc dầu mức đầu tư cho
GDMN cao nhưng trong đó đã có cả 770.000 đồng tiền ăn bán trú
cho các cháu, nếu trừ số tiền này đi thì chi phí học mẫu giáo
cho một cháu chỉ còn 360.000 đ/năm và như thế chi phí học tập
cho các cháu chỉ còn 2,82% đối với nhóm hộ nghèo, 1,49% với hộ
trung bình và 0,71% với hộ khá. Với chi phí học tập như vậy chưa
thực sự cao đối với các hộ ở xóm Đồng Quan và như thế việc trẻ
em chưa được tiếp cận sớm với GDMN ở xóm Đồng Quan chưa phải do
lý do kinh tế là chính mà là do nhận thức của người dân và một
phần do chưa có cơ sở vật chất (Nhà trẻ) để trẻ em có thể được
đến trường.
Trường hợp nhà Bà Ngô Thị Ngọc xóm Đồng
Quan, mức thu nhập của nhà Bà là 17.780.000 đồng/năm (Hộ trung
bình) chỉ đầu tư thêm 760.000 đồng (Tiền chi phí học hai năm mẫu
giáo sớm) cho cháu Diệp Thị Yến, đã nâng lực học của cháu lên
hai bậc so với người anh Diệp Văn Hưng chỉ được đi học mẫu giáo
có một năm khi đã 5 tuổi. Bà đã tính rằng, đã phải chi phí cho
cháu Hưng mỗi tuần hai buổi học với chi phí 2000 đ/buổi (128.000
đ/năm) để có người kèm cặp thêm cũng chỉ giúp cháu khỏi lưu ban.
Điều này cho thấy nếu trẻ em được tham gia GDMN sớm không những
tạo điều kiện cho trẻ học tập và phát triển tốt hơn ở các giai
đoạn tiếp theo mà còn giúp các hộ nghèo tiết kiệm tiền khi trẻ
lớn lên.
Hiệu quả đầu tư của xã hội:
Một trong nhiều nguyên nhân mà trẻ
em ở xóm Đồng Quan không được tiếp cận sớm với GDMN (Giai đoạn
nhà trẻ) là do ở xóm không có nhà trẻ, một thực trạng không chỉ
riêng ở xóm Đồng Quan của xã Bàn Đạt mà tương đối phổ biến ở các
nơi khác thuộc vùng nông thôn miền núi. Trong khi ở những bậc
học tiếp theo đều đã có những sự quan tâm, đầu tư tốt hơn. Dẫu
biết rằng, chúng ta còn nhiều khó khăn, còn nhiều toan tính để
cải thiện đời sống nhân dân, nhưng nếu tiếp tục thờ ơ với vấn đề
này thì đến bao giờ trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo miền núi
mới có cơ hội được chăm sóc, học tập ngay từ giai đoạn đầu tiên
của cuộc đời.
Năm 2004, với sự hỗ trợ của tổ chức
Plan Thái Nguyên, xóm Đồng Quan đã xây dựng mới một ngôi trường
cho giáo dục mầm non (Chủ yếu cho cho độ tuổi mẫu giáo từ 3-6
tuổi). Tổng kinh phí xây dựng là 270 triệu đồng trong đó kinh
phí của Tổ chức Plan là 266.300.000 đồng, đối ứng của nhân dân
trong xóm là 3.700.000 đồng. Ngôi trường mới được xây dựng khang
trang, tạo điều kiện cho con em trong xóm đến lớp dễ dàng. Từ đó
đến nay, số lượng trẻ em được tham gia các lớp mẫu giáo đã tăng
lên đáng kể, trong đó phải kể đến số trẻ em được tham gia mẫu
giáo ngay từ khi 3-4 tuổi (Bảng 9). Trong dự toán, vì được thiết
kế vững chắc, ngôi trường này có thể sử dụng khá lâu (Từ 20-25
năm). Với số lượng trẻ em đi học như hiện nay, thì khoản chi phí
xây dựng trường chỉ tương đương với 180.000 đồng/cháu/năm (270
triệu/20 năm x 25 cháu/năm x 3 năm/cháu). Số tiền này chỉ tương
đương với chi phí học thêm để trẻ không bị lưu ban chứ chưa giúp
các cháu học tốt hơn, có thể vươn lên ở các bậc học cao hơn.
|
STT |
Năm học |
Số em đến lớp mẫu giáo từ 3-4
tuổi |
Số em tham
gia GDMN từ 5 tuổi |
|
Số lượng |
% |
Số lượng |
% |
|
1 |
Năm học 2004-2005 |
|
|
|
|
|
2 |
Năm học 2005-2006 |
22 |
51,16 |
20 |
100 |
|
3 |
Năm học 2006-2007 |
23 |
53,49 |
23 |
100 |
|
4 |
Năm học 2007-2008 |
25 |
58,14 |
24 |
100 |
Bảng 9. Thống kê số lượng trẻ em
của xóm Đồng Quan được tham gia GDMN từ khi có trường GDMN tại
xóm

Biểu đồ 4. Đồ thị diễn
giải tỷ lệ trẻ em tham gia giáo dục mầm non từ 3-4 tuổi

Hình 3. Ngôi trường mẫu giáo và các
cháu lớp mẫu giáo 3-4 tuổi đang vui chơi ở xóm Đồng Quan
|